Cảm xúc trong tôi vẫn vẹn nguyên như cái hồi được Ban Biên tập giao nhiệm vụ tìm gặp những nhân chứng, sưu tầm tư liệu để thực hiện số đặc biệt nhân kỷ niệm 40 năm Ngày Báo Quân khu 1 xuất bản số đầu tiên. Thấm thoắt bốn mươi năm nữa đã trôi qua. Mới đây, khi anh Nguyễn Mạnh Quỳnh, Phó Tổng Biên tập Báo Quân khu 1, trao đổi về kế hoạch thực hiện số báo đặc biệt kỷ niệm 80 năm ngày xuất bản số báo đầu tiên vào tháng 8-2026, tôi lục tìm lại những trang bản thảo cũ. Những dòng chữ đã ngả màu giấy như kéo tôi trở về với những cuộc gặp năm nào.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Thiếu tướng Dũng Mã (ngoài cùng bên phải) và đồng chí Thái Dũng trước hang đá Lam Sơn ở Cao Bằng năm 1950. Ảnh: Vũ Năng An
Thời gian trôi nhanh đến ngỡ ngàng. Nhiều người tôi từng có dịp gặp gỡ hôm ấy nay đã đi xa: Thiếu tướng Dũng Mã - cộng tác viên xuất sắc của báo; nhà báo Lý Anh Đồng (bút danh Kỳ Ân), vị Chủ bút đầu tiên của Báo Chiến khu; dịch giả Bàng Thúc Long; nhạc sĩ Đỗ Nhuận; nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn; nhà văn Triệu Bôn... Mỗi người đã để lại một dấu ấn riêng trong lịch sử tờ báo cũng như trong ký ức của tôi. Xin được kể lại những cuộc gặp ấy như một nén hương tri ân những người đã góp phần viết nên lịch sử của báo chí Chiến khu.
Khi đọc những số báo đầu tiên, tôi cứ nghĩ Thiếu tướng Dũng Mã là một phóng viên chuyên nghiệp. Đến khi tìm hiểu mới biết ông chỉ nhận mình là một cộng tác viên tích cực. Lần theo địa chỉ, tôi tìm đến căn hộ tập thể số 38 Điện Biên Phủ (Hà Nội), nơi vị tướng già đang sinh sống và giảng dạy tại Học viện Quân sự cấp cao.
Ông tiếp tôi bằng nụ cười hiền hậu. Sau một lúc hồi tưởng, ông chậm rãi kể:
- À, tôi nhớ rồi. Sau khi tốt nghiệp khóa 1 Trường Quân chính Bắc Sơn, tôi được giữ lại làm giáo viên. Suốt ngày nghiên cứu súng đạn, bom mìn, chiến thuật, kỹ thuật... Tôi nghĩ những điều mình học được phải chia sẻ với bộ đội nên tìm đến với báo. Đến khi làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông, bận rộn là thế nhưng vẫn cố gắng viết. Viết đủ cả: tin tức, gương chiến sĩ giỏi, trận đánh hay... nhưng nhiều nhất vẫn là kinh nghiệm huấn luyện và chiến đấu.
Tôi hỏi: - Bây giờ bác còn viết nữa không?
Ông cười: - Có chứ, nhưng ít hơn trước. Vẫn cộng tác với Tạp chí Huấn luyện, Báo Quân đội nhân dân.
Nghe ông kể, tôi bỗng thấy mình như nhỏ lại. Thời của các ông, giữa bom đạn chiến tranh, thiếu giấy, thiếu bút, thiếu đủ mọi phương tiện, vậy mà vẫn tranh thủ từng giờ để viết báo. Còn chúng tôi hôm nay có biết bao điều kiện thuận lợi hơn, nghĩ vậy, tôi càng thấm thía giá trị của từng bài báo được viết trong khói lửa chiến tranh.
Rời căn hộ của Thiếu tướng Dũng Mã, tôi tìm đến nhà Đại tá, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Tôi cố chọn lúc chiều muộn để khỏi làm phiền ông. Con phố Ông Ích Khiêm (Hà Nội) hồi ấy bé như đường làng và yên tĩnh. Bước vào nhà, tôi thấy ông đang cặm cụi sáng tạo một bức tranh gò đồng.
Từ lâu tôi đã yêu những ca khúc của ông như: Quê em, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Đào công sự, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng... Đến khi tận mắt ngắm những bức tranh gò đồng, sơn mài do chính ông sáng tác, tôi càng khâm phục sự đa tài của người nghệ sĩ - chiến sĩ ấy.
Ông tạm gác công việc, vui vẻ kể:
- Hồi ở Việt Bắc tôi mới mười chín tuổi. Học sinh khoác ba lô đi kháng chiến mà, háo hức lắm. Có khi đi bộ từ Cù Vân ra thị xã Thái Nguyên cách hàng chục cây số chỉ để uống một cốc cà phê rồi lại quay về là chuyện thường. Ra đường, cứ thấy áo xanh là đồng chí, ai cũng dễ cảm thông với nhau.
Ông cười khi nhắc lại một kỷ niệm:
- Có lần tôi với anh Đỗ Nhuận bị du kích giữ lại cả đêm chỉ vì trong ví có ảnh Nguyên soái Stalin. Các đồng chí ấy thắc mắc: sao lại mang ảnh một ông Tây trong người? Giải thích mãi mới được thả. Nhưng chẳng ai giận ai cả, vì mọi người đều xuất phát từ lòng yêu nước và trách nhiệm với cách mạng.
Ông kể tiếp:
- Tôi làm báo Bắc Sơn một thời gian. Tòa soạn sơ tán trong rừng, máy in hỏng nên phải in li-tô trên đá. Ngoài sáng tác nhạc, tôi còn vẽ tranh cổ động, minh họa, trình bày báo... Giờ không còn nhớ mình đã vẽ những gì nữa. Hồi ấy, việc gì có ích cho bộ đội và nhân dân thì ai cũng sẵn sàng lao vào làm chẳng tính toán thiệt hơn.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ ánh mắt của ông khi nhắc về Chiến khu. Tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng trong ánh nhìn ấy vẫn nguyên vẹn niềm tự hào của một người từng sống những năm tháng đẹp nhất của đời mình trên cái nơi “trông về Việt bắc mà nuôi chí bền” ấy.
Bác Trịnh Bình khi tôi gặp đã ngoài tám mươi tuổi, nguyên Vụ trưởng Vụ Lao động - Tiền lương Bộ Cơ khí và Luyện kim. Trước đó, bác từng gắn bó với Báo Quân Việt Bắc.
Bác cười hiền:
- Tôi vốn làm trợ lý tuyên truyền, nhưng mê viết báo quá nên anh em “bắt cóc” sang phụ trách báo luôn. Có thời kỳ Tòa soạn chỉ còn mình tôi với anh Lê Phương. Nhiều khi phải chờ đủ bài mới dám ra số. Sau này mạng lưới thông tin viên đông hơn, báo mới ra đều kỳ. Anh em viết thư đôn đốc cộng tác viên liên tục nên bài vở ngày càng phong phú.
Lời kể của bác mộc mạc nhưng giúp tôi hình dung rõ hơn một thời làm báo đầy gian khó mà cũng vô cùng đáng nhớ.
Người tiếp theo tôi tìm gặp là ông Lê Kim Thảo, nguyên Chính ủy Trung đoàn, người phụ trách Báo Quân Việt Bắc từ năm 1950 đến năm 1954.
Ông nhớ rất rõ những ngày làm báo giữa chiến trường:
- Hồi ấy lực lượng làm báo ít lắm, nghiệp vụ còn hạn chế, phương tiện thì thiếu đủ bề. Nhưng bù lại, anh em rất đoàn kết và ai cũng hết lòng với công việc. Có đợt tôi cùng Giang Tô và Bàng Thúc Long đi phục vụ Chiến dịch Trung du. Vừa đi, vừa viết, vừa biên tập. Ban ngày bám đơn vị, đêm về in báo, rồi chính mình lại mang báo đi phát hành.
Ông xúc động kể thêm:
- Có những số báo phản ánh chiến dịch được Bác Hồ đọc. Người khen báo viết ngắn gọn, dễ hiểu. Kết thúc chiến dịch, chúng tôi còn được đồng chí Lê Liêm, Chính trị ủy viên Chiến khu, biểu dương cùng các chiến sĩ xung kích. Đó là phần thưởng không bao giờ quên.
Hà Nội khi ấy còn nhiều người từng làm báo Chiến khu như các bác Xuân Quang, Ngọc Tự, Đỗ Quân, Lê Kim... Nhưng quỹ thời gian quá ít, tôi không thể gặp hết.
Trước lúc chia tay, bác Lê Kim Thảo dặn:
- Cậu nên đến gặp ông Bàng Thúc Long. Ông ấy là người làm việc quên mình.
Tôi nghe lời, tìm đến ngôi nhà nhỏ trên phố Phó Đức Chính, phía Bắc Hồ Tây.
Quả đúng như lời bác Thảo nói.
Dịch giả Bàng Thúc Long lúc ấy vẫn miệt mài bên bàn làm việc với đống bản thảo. Ông nhớ lại:
- Hồi ở Việt Bắc, tôi vừa viết báo, vừa chụp ảnh, rồi đi làm cải cách ruộng đất... Cái thời ấy ai cũng hăng say đến lạ, chẳng biết khổ là gì.
Rồi ông mỉm cười, nói với tôi một câu mà đến giờ tôi vẫn nhớ:
- Với tôi, tất cả vẫn ở phía trước.
Mục tiêu của ông khi ấy là trước khi rời trần thế phải dịch mười tác phẩm văn học Mỹ Latinh sang tiếng Việt. Ông đã dịch Đô-nha Bác-ba-ra, Vực xoáy... và hằng ngày vẫn kiên trì làm việc với những bản thảo tiếng Tây Ban Nha.
Nhìn người chiến sĩ già lặng lẽ dịch từng trang sách, tôi hiểu rằng niềm đam mê lao động không hề có tuổi.
Bốn mươi năm trước, những cuộc gặp ấy giúp tôi hoàn thành một số báo kỷ niệm. Hôm nay, khi mở lại những trang viết cũ để ôn lại chặng đường 80 năm của Báo Quân khu 1, ký ức lại hiện về nguyên vẹn.
Điều còn đọng lại trong tôi không chỉ là những câu chuyện làm báo giữa Chiến khu, mà còn là nhân cách của một thế hệ làm báo thời chiến. Họ không coi viết báo là một công việc đơn thuần. Với họ, mỗi bài báo là một nhiệm vụ chiến đấu; mỗi trang in là một cách góp phần động viên bộ đội, cổ vũ nhân dân và tiếp thêm niềm tin vào thắng lợi.
Mỗi người một cuộc đời, một số phận, một phong cách, nhưng họ đều gặp nhau ở lòng yêu nước, ở tinh thần dấn thân và niềm say mê nghề nghiệp đến tận cùng. Chính những con người ấy đã làm nên diện mạo của báo chí Chiến khu trong những năm tháng gian lao nhất.
Đối với tôi, sau bao nhiêu năm làm nghề, những cuộc gặp ấy vẫn là một trong những ký ức đẹp nhất. Đó cũng là tấm gương để những người cầm bút hôm nay soi mình, gìn giữ ngọn lửa nghề mà các thế hệ đi trước đã thắp lên từ những ngày kháng chiến.