Tờ báo “nhỏ” nghĩa lớn
Cập nhật ngày: 17/08/2026 11:23

Năm 1965, tôi về Phòng Tuyên huấn, Quân khu Việt Bắc khi Quân khu Bộ đã sơ tán vào rừng thuộc xã Quang Sơn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Tòa soạn báo Quân Việt Bắc ở trong một cái lán một mái, đuôi lán chạm vào vách đá, nhưng không hiểu sao người ta “kiêng kị” 2 tiếng Tòa soạn, nên chỉ gọi là Tổ báo. Tổ báo chúng tôi hồi đó có các anh Đỗ Quân, Nguyễn Mạnh Trí, Bùi Quýnh, Âu Đức Kim về sau có thêm anh Văn Kháng, Nguyễn Quốc An và Phan Quang Nhụ. Anh Đỗ Quân thực chất là Tổng Biên tập nhưng được gọi tránh đi là phụ trách Tổ báo.


Tranh vẽ nhà văn Triệu Bôn.

Thôi thì, dù gọi là gì chăng nữa, công việc của chúng tôi vẫn là làm báo. Một tờ báo nhỏ bé, một Tòa soạn quá khiêm nhường, nhưng lại phục vụ một đối tượng bạn đọc rộng rãi là các chiến sĩ bộ đội, dân quân du kích, tự vệ và đồng bào của hàng chục dân tộc từ huyện Đông Anh lên đến mũi Lũng Cú, từ Hà Giang trải rộng đến Lào Cai. Với đối tượng và địa bàn hoạt động rộng lớn như thế, dù để những cây bút tài năng bậc thầy thả sức tung hoành và dẫu có những tác phẩm đồ sộ đến đâu cũng không hề bị “chật đất” huống hồ với tôi bấy giờ mới là một phóng viên chân ướt chân ráo vào nghề.

Chuyến đi đầu tiên của tôi ở báo Quân Việt Bắc là lên Yên Bái giữa một mùa hè oi nóng, nửa đêm trời tối và cơn dông vần vũ trên bầu trời, tàu hỏa đi đến Phú Thị thì dừng lại vì đường sắt từ đó ngược lên phía Bắc bị bom địch phá hủy. Tôi đành mua ít chuối, vài cái bánh chưng bỏ ba lô, rồi tìm bạn lập thành một nhóm “mở đường” cứ dọc bờ sông Hồng mà cuốc bộ.

Đi ròng rã 20 tiếng đồng hồ, mấy người bạn đường đã lần lượt chia tay, gần nửa đêm hôm sau còn lại một mình tôi đi vào thị xã Yên Bái lổn nhổn đất đá, gạch, vữa, cột điện đổ, nhà sập, những đám cháy do bom Mỹ gây ra từ lúc nào lửa vẫn còn bốc lên ngùn ngụt.

Đến giờ, tôi không còn nhớ bằng cách nào mà đêm hôm đó đã tìm được trận địa một đơn vị súng máy cao xạ của tỉnh đội Yên Bái… Non trưa, từ Trường y sĩ chúng tôi quay lại trận địa và đây là lần đầu tiên tôi tham gia đánh máy bay Mỹ, trận chiến diễn ra vào quãng một giờ chiều hôm đó.

Sau khoảng 6, 7 đợt nổ súng mãnh liệt vào những chiếc F105 bổ nhào, gớm ghiếc như những con cá sấu, không hiểu thực sự chúng tôi có hạ được chiếc nào không nhưng tới lúc khói tan thì mặt trời đã vàng vàng, và mặc dù có mấy người bị thương, trên các trận địa vẫn bừng bừng niềm tin chiến thắng. Tôi được đồng chí Đại đội trưởng biểu dương: “Đặc biệt là đồng chí nhà báo Quân khu đã động viên anh em rất kịp thời trong chiến đấu”. Được biểu dương mà tôi ngượng vì mình chỉ có mỗi một thành tích là đứng trong ụ súng, chả bắn được phát nào, cũng chả kịp động viên anh em được tiếng nào. Song, tôi thực sự cảm động trước tấm lòng quý trọng người làm báo, quả đã làm các chiến sĩ vững vàng hơn, vì họ thấy chiến đấu không đơn độc. Tiếp đó là những chuyến đi Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên…

Vài năm sau, tôi được vinh dự đến với chiến trường Khe Sanh - đường 9 với tư cách là phóng viên mặt trận của tờ “Quân Việt Bắc”. Ngoài Trung đoàn 246 là đơn vị của Quân khu chiến đấu trên chiến trường, tôi đã “nhảy” sang hầu khắp các đơn vị lớn như Sư đoàn 308, Sư đoàn 304, Sư đoàn 325, các đơn vị đường dây, các cơ quan Đảng, chính quyền trong vùng. Hầu như không ai để ý tôi chỉ là phóng viên tờ báo nhỏ nhưng không hề nhỏ hơn chữ nghĩa ở những tờ báo lớn.

Riêng tôi, từ khi bắt đầu công việc cầm bút làm báo, viết văn, tôi vẫn tự nhủ một điều: Mỗi con người đều có một điểm xuất phát, điểm xuất phát ấy có ý nghĩa đặc biệt đối với những thành công và thất bại trong suốt cả chặng đường dài sự nghiệp. Tờ “Quân Việt Bắc” bé nhỏ, khiêm nhường, tận tụy này chính là điểm xuất phát của đời tôi.

THÁI HÀ
(Theo ghi chép của nhà văn Triệu Bôn)