Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt lịch sử vĩ đại, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi đó gắn với công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh - người tìm đường, dẫn lối, tổ chức xây dựng lực lượng, chớp thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày 19/8/1945, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội dự cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng, hưởng ứng cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ảnh: Tư liệu TTXVN
“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”
Trước cảnh nước mất, nhà tan, chứng kiến sự bóc lột tàn bạo của thực dân và phong kiến tay sai, nỗi thống khổ của nhân dân lao động, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm hình thành khát vọng tìm đường giải phóng dân tộc và có tầm nhìn độc lập, sáng tạo so với các bậc tiền bối. Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước, với một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (1).
Và ngày 5/6/1911 với tên mới Văn Ba, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu Amiral La Touche De Tréville, rời bến cảng Nhà Rồng, khởi đầu một cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Với ý chí và nghị lực phi thường, Người đã vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ trong hành trình bôn ba qua 3 đại dương, 4 châu lục, hơn 30 quốc gia và các vùng lãnh thổ, để tìm con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam.
Chính chủ nghĩa yêu nước cùng những năm tháng tìm tòi không mệt mỏi về thực tiễn, lý luận và hoạt động trong phong trào công nhân quốc tế, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, bất chấp hiểm nguy để tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành Nguyễn Ái Quốc - nhà hoạt động xuất sắc của quốc tế cộng sản và giai cấp công nhân.
Năm 1920, Người đã gặp Chủ nghĩa Mác-Lênin qua bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Luận cương của Lênin như một luồng ánh sáng mới soi rõ thêm con đường cứu nước mà người thanh niên yêu nước đang tìm kiếm. Với lập trường yêu nước đúng đắn, Người vạch ra chân lý: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (2).
Từ năm 1921 đến năm 1930, Người ra sức truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường Kách mệnh”, đặc biệt là việc xuất bản tờ báo Thanh niên ra ngày 21/6/1925, Người đã chuẩn bị về đường lối chính trị để tiến tới thành lập Đảng. Trong thời gian này, Người cũng tập trung cho việc chuẩn bị về tổ chức và cán bộ thông qua việc lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) và tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ và gửi đi học ở Liên Xô...
Khi điều kiện thành lập Đảng đã chín muồi, ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của Người, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản đã nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, đường lối cách mạng Việt Nam đã cơ bản được hình thành, con đường cứu nước đúng đắn của Việt Nam đã cơ bản được xác định.
Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng

Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của Đảng ta trong suốt 15 năm (1930 - 1945). Trong ảnh: Từ ngày 6/1 - 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam họp ở Hong Kong (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Ảnh: TTXVN phát
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự kiện trọng đại này, đã được nhà thơ Tố Hữu khắc hoạ bằng những dòng thơ trào dâng cảm xúc: “Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!/ Nhớ thương, hòn đất ấm hơi Người/ Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ/ Mà đến bây giờ mới tới nơi” (“Theo chân Bác”).
Người đã chọn Cao Bằng là nơi xây dựng căn cứ cách mạng. Ở đây, Người và các đồng chí bắt tay vào công tác vận động, tập hợp và tổ chức lực lượng quần chúng. Với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, từ ngày 10 đến 19/5/1941, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng Đông Dương, Hội nghị Trung ương 8 đã đưa ra những quyết sách quan trọng, trước hết là chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng, tập trung giải quyết một cách đúng đắn, khoa học nhất mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp.
Đối với cách mạng ở 3 nước Đông Dương: Hội nghị Trung ương 8 quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận dân tộc thống nhất. Ở Việt Nam thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Đối với Lào và Campuchia, Hội nghị chủ trương giúp đỡ nhân dân hai nước thành lập Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Về mặt chính quyền, Hội nghị cũng nêu rõ, sau khi cách mạng thành công sẽ lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Cùng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là sự phát triển mạnh mẽ của các đoàn thể trong mặt trận, như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Minh, mọi tầng lớp nhân dân yêu nước được tập hợp đoàn kết tham gia phong trào đứng lên đánh đổ thực dân xâm lược giành độc lập tự do. Có thể nói, sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là yếu tố quyết định cho thắng lợi Cách mạng Tháng Tám.
Song song với việc thành lập Mặt trận Việt Minh, để làm cơ sở và nòng cốt cho đấu tranh chính trị, Người đã cho xây dựng lực lượng vũ trang mà đầu tiên là thành lập đội vũ trang Cao Bằng, làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị quân sự cho các đội tự vệ, dân quân du kích địa phương, hậu thuẫn cho các cuộc đấu tranh của quần chúng.
Đến tháng 12/1944, Người đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngay sau khi thành lập đội đã gây được tiếng vang lớn với chiến thắng diệt gọn 2 đồn địch ở Phay Khắt và Nà Ngần. Uy tín của đội lan tỏa khắp cả nước và nhiều địa phương cũng đã chủ động thành lập các đội vũ trang. Lực lượng vũ trang không ngừng lớn mạnh đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Chớp thời cơ, phát động Tổng khởi nghĩa

Trong ảnh: Đình Tân Trào (Tuyên Quang), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập và chủ trì quốc dân Đại hội (16/8/1945) quyết định Tổng khởi nghĩa. Ảnh: TTXVN
Từ đầu năm 1945, cục diện trong nước và thế giới và có những biến chuyển sâu sắc. Ở trong nước, cao trào cứu nước của toàn dân đã dâng lên tới đỉnh điểm. Các cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và thắng lợi ở nhiều vùng. Khu giải phóng và căn cứ địa được lập ra trong cả nước, quân đội cách mạng đã được thành lập, mọi lực lượng đã sẵn sàng chiến đấu.
Trên thế giới, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào hồi kết. Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương; đến giữa tháng 8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Đồng minh. Tình hình đó làm cho chính quyền tay sai hoàn toàn tê liệt, khủng hoảng chính trị diễn ra trên toàn cõi Đông Dương. Đây là thời cơ vô cùng thuận lợi cho cách mạng Việt Nam vùng lên giành chính quyền về tay Nhân dân.
Với nhãn quan chính trị sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập” (3). Và "Cần phải tranh thủ từng giây, từng phút tình hình sẽ biến chuyển nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội" (4).
Từ ngày 13 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập tại Tân Trào (Tuyên Quang), chính thức thông qua chủ trương Tổng khởi nghĩa trên cả nước, thể hiện sự đồng thuận và nhất trí cao độ của Trung ương Đảng với nhận định sắc sảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị cũng đề ra kế hoạch chỉ đạo khởi nghĩa cho từng địa phương và khẳng định nguyên tắc lãnh đạo toàn diện của Đảng trong thời khắc quyết định.
Tiếp đó, vào ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân được tổ chức tại đình Tân Trào với sự tham gia của đại biểu từ khắp các vùng miền. Đại hội biểu thị ý chí thống nhất của toàn dân tộc, nhất trí tán thành quyết định Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh và bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Sáng 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Ảnh: TTXVN
Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, hiệu triệu đồng bào cả nước: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” (5).
Chớp thời cơ chiến lược “ngàn năm có một”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào trong cả nước đã đồng loạt đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong chưa đầy nửa tháng (từ 14 đến 28/8/1945), cuộc tổng khởi nghĩa đã thắng lợi hoàn toàn, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến, chính quyền về tay nhân dân. Từ đây, nhân dân Việt Nam thoát khỏi thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình; đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, gắn với chủ nghĩa xã hội.
Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Thành quả Cách mạng Tháng Tám là kết tinh công sức, trí tuệ, ý chí, máu xương của toàn thể dân tộc Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là thành quả từ công tác chuẩn bị thực lực và tiềm lực cách mạng chu đáo, khoa học và sự mẫn cảm về chính trị trong nhận diện tình thế, thời cơ cách mạng.
Lịch sử thế giới hiện đại cho thấy không nhiều dân tộc thuộc địa có thể giành được độc lập trong thời điểm đó. Thế nhưng, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã làm nên kỳ tích, trở thành ngọn cờ cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Vai trò của Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám không chỉ được ghi nhận trong lịch sử mà còn mang giá trị thời đại sâu sắc. Bài học lớn nhất chính là phải có đường lối đúng đắn, gắn mục tiêu dân tộc với lợi ích nhân dân, lấy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc làm nền tảng, đồng thời biết tranh thủ thời cơ quốc tế.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị. Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh toàn dân, tranh thủ thời cơ và vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng cường quốc năm châu, xứng đáng với công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu!
(1): Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr 5,6.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.30.
(3), (4): Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, t2, tr.256, tr.258
(5) Hồ Chí Minh Toàn tập, sđd, t3, tr.569.