Phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng - lá chắn chống luận điệu "biến chất lãnh đạo": Kỳ 2: Phát triển nền tảng tư tưởng - quy luật tất yếu, không làm thay đổi bản chất lãnh đạo của Đảng
Cập nhật ngày: 11/07/2026 10:20 (GMT +7)

Sau khi đã nhận diện rõ bản chất và thủ đoạn của luận điệu xuyên tạc ở Kỳ 1, yêu cầu đặt ra là phải luận giải thấu đáo trên phương diện khoa học để làm sáng tỏ vấn đề. Thực tiễn đấu tranh cho thấy, nếu chỉ dừng ở phản bác hiện tượng mà thiếu cơ sở lý luận vững chắc, sẽ khó tạo được sức thuyết phục bền vững. Do đó, cần khẳng định một cách nhất quán rằng, phát triển nền tảng tư tưởng là quy luật tất yếu của mọi đảng cách mạng, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Chính quá trình bổ sung, hoàn thiện đó không làm thay đổi mà còn củng cố, nâng cao bản chất lãnh đạo của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Tính tất yếu của phát triển trong nền tảng tư tưởng

Quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[1]. Bên cạnh việc khẳng định vai trò của hệ tư tưởng vô sản, của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng phê phán gay gắt những tư tưởng đi ngược lại với quan điểm của chủ nghĩa Mác.

Kế thừa và phát triển nội dung đó, việc phát triển nền tảng tư tưởng là tất yếu, bắt nguồn từ quy luật vận động của tư duy lý luận cách mạng. Lý luận là sự khái quát từ thực tiễn nên không bất biến, mà luôn vận động, bổ sung, hoàn thiện cùng với điều kiện lịch sử cụ thể. Thực tiễn đấu tranh tư tưởng cho thấy, việc tuyệt đối hóa tính “bất biến” dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để quy chụp đổi mới là “xa rời” nền tảng. Thực chất, kiên định không đồng nghĩa với bảo thủ, giáo điều, mà là giữ vững các nguyên lý cốt lõi, đồng thời phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn. Sự thống nhất giữa kiên định và phát triển là điều kiện bảo đảm sức sống và năng lực dẫn dắt của lý luận cách mạng.

Mối quan hệ giữa “kiên định” và “phát triển” là quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời. Kiên định là giữ vững bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng và các nguyên lý nền tảng; còn phát triển là quá trình làm sâu sắc, cụ thể hóa các nguyên lý đó trong bối cảnh mới. Các thế lực thù địch thường cố tình đối lập hai yếu tố này để tạo nhận thức sai lệch, quy kết đổi mới là “chệch hướng”.

Cơ sở từ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Khẳng định tính nhất quán và phát triển

Khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng

Từ phương diện văn kiện, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định nhất quán nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, đồng thời làm rõ hơn yêu cầu phát triển sáng tạo trong điều kiện mới. Đây không chỉ là sự kế thừa về nguyên tắc mà còn là sự nâng tầm nhận thức lý luận trước những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và trong nước. Văn kiện nêu rõ: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”[2]. Thực tiễn đấu tranh cho thấy, chính sự khẳng định này là cơ sở vững chắc bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, bởi nó xác lập rõ vai trò nền tảng, kim chỉ nam cho mọi đường lối, đồng thời khẳng định sự thống nhất giữa kiên định và phát triển.

Nhấn mạnh yêu cầu phát triển sáng tạo

Trên cơ sở kiên định nền tảng, Văn kiện Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu phát triển sáng tạo lý luận nhằm đáp ứng những biến đổi nhanh chóng của bối cảnh mới như toàn cầu hóa sâu rộng, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt. Thực tiễn đấu tranh tư tưởng cho thấy, nếu không kịp thời bổ sung, hoàn thiện lý luận, sẽ tạo ra khoảng trống để các quan điểm sai trái lợi dụng xuyên tạc, quy chụp. Vì vậy, phát triển lý luận không chỉ là nhu cầu nội tại mà còn là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp lãnh đạo, cầm quyền. Văn kiện chỉ rõ: Chủ động nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới. Điều đó khẳng định rõ vai trò của tư duy đổi mới, sáng tạo như một động lực quan trọng, vừa nâng cao chất lượng hoạch định đường lối, vừa củng cố bản lĩnh chính trị, qua đó trực tiếp bác bỏ luận điệu cho rằng phát triển lý luận đồng nghĩa với “xa rời” hay “biến chất”.

Luận giải bản chất: Phát triển nền tảng tư tưởng không làm thay đổi bản chất lãnh đạo của Đảng

Bản chất lãnh đạo của Đảng là gì?

Để bác bỏ tận gốc luận điệu “biến chất lãnh đạo”, cần luận giải rõ bản chất lãnh đạo của Đảng trên nền tảng lý luận và thực tiễn. Về bản chất, Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời thấm sâu tính nhân dân và tính dân tộc; đó là sự thống nhất hữu cơ giữa lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và lợi ích của nhân dân lao động. Mục tiêu xuyên suốt, nhất quán là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – một lựa chọn đã được lịch sử kiểm nghiệm và khẳng định. Thực tiễn đấu tranh cho thấy, mọi sự phát triển lý luận, đổi mới phương thức lãnh đạo đều nhằm cụ thể hóa và hiện thực hóa mục tiêu đó, chứ không làm thay đổi bản chất. Chính sự kiên định về mục tiêu và bản chất này là cơ sở vững chắc để phản bác các luận điệu xuyên tạc.

Phát triển nền tảng tư tưởng làm gì cho bản chất đó?

Phát triển nền tảng tư tưởng không làm “biến đổi” mà trực tiếp làm giàu và củng cố bản chất lãnh đạo của Đảng trên cả phương diện nội dung và phương thức. Trước hết, đó là quá trình làm sâu sắc hơn các nguyên lý, cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương phù hợp với điều kiện mới, qua đó nâng cao chất lượng lãnh đạo, cầm quyền. Đồng thời, sự phát triển này giúp Đảng tăng cường năng lực thích ứng trước những biến động nhanh, phức tạp của bối cảnh quốc tế và trong nước, đặc biệt trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[3]. Thực tiễn cho thấy, chính sự phát triển đó đã củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội, tạo nền tảng vững chắc để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về “biến chất lãnh đạo”.

Bác bỏ trực diện luận điệu sai trái

Trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc bác bỏ trực diện luận điệu “biến chất lãnh đạo” đòi hỏi phải chỉ rõ bản chất của thủ đoạn đánh tráo khái niệm giữa “phát triển” và “biến chất”. Các thế lực thù địch cố tình đồng nhất quá trình bổ sung, hoàn thiện lý luận – vốn là quy luật khách quan của mọi hệ tư tưởng cách mạng – với sự thay đổi bản chất, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch, dẫn dắt dư luận theo hướng phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, xét về bản chất khoa học, “phát triển” là sự vận động đi lên trên cơ sở kế thừa, làm phong phú và sâu sắc hơn các nguyên lý cốt lõi, còn “biến chất” là sự thay đổi về bản chất, làm mất đi nền tảng tư tưởng. Hai phạm trù này hoàn toàn khác biệt, không thể đánh đồng.

Kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng cho thấy, mọi sự trì trệ, bảo thủ, không kịp thời bổ sung, phát triển lý luận mới chính là nguy cơ thực sự làm suy yếu bản chất cách mạng của Đảng, bởi khi lý luận không theo kịp thực tiễn sẽ mất vai trò dẫn dắt, tạo ra khoảng trống để các quan điểm sai trái thâm nhập. Văn kiện Đại hội XIV đã khẳng định rõ: Chủ động đổi mới tư duy, không ngừng phát triển lý luận, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới.

Minh chứng cho tính đúng đắn

Thành tựu đổi mới

Thực tiễn hơn bốn thập niên đổi mới là minh chứng thuyết phục cho tính đúng đắn của việc phát triển nền tảng tư tưởng gắn với giữ vững bản chất lãnh đạo của Đảng. Từ một nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên đạt nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng, ổn định vĩ mô, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao vị thế quốc tế. Những kết quả đó không phải là ngẫu nhiên, mà là sản phẩm của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm đấu tranh cho thấy, chính thực tiễn sinh động này đã trực tiếp bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bởi không thể có “biến chất” nếu bản chất cách mạng, khoa học không được giữ vững và phát huy hiệu quả. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: “Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới”[4]. Điều đó cho thấy, sự phát triển lý luận không làm thay đổi mà chính là động lực quan trọng củng cố bản chất lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả tổ chức thực tiễn của Đảng.

Thực tiễn lãnh đạo trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực biến động nhanh, phức tạp, thực tiễn lãnh đạo của Đảng tiếp tục khẳng định năng lực thích ứng linh hoạt, bản lĩnh chính trị vững vàng và hiệu quả điều hành trong xử lý các thách thức toàn cầu. Từ những biến động kinh tế, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đến các vấn đề an ninh phi truyền thống, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chủ trương, chính sách trên cơ sở phát triển tư duy lý luận, bảo đảm giữ vững ổn định chính trị – xã hội và định hướng phát triển bền vững. Kinh nghiệm đấu tranh cho thấy, chính sự chủ động, sáng tạo này đã vô hiệu hóa nhiều luận điệu xuyên tạc, bởi thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý rõ ràng nhất. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Điều đó chứng minh rằng, việc phát triển nền tảng tư tưởng không làm thay đổi mà còn nâng cao năng lực lãnh đạo, giúp Đảng đủ sức dẫn dắt đất nước vượt qua thách thức, củng cố niềm tin xã hội và bác bỏ hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch.

Từ những luận giải trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định một cách khoa học rằng, phát triển nền tảng tư tưởng không phải là sự “xa rời” mà chính là biểu hiện cao của sự kiên định, góp phần củng cố và nâng cao bản chất lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Kinh nghiệm đấu tranh tư tưởng cho thấy, chỉ khi lý luận được bổ sung, hoàn thiện kịp thời trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đảng mới giữ vững được vai trò dẫn dắt và sức chiến đấu. Trên cơ sở đó, Kỳ 3 sẽ tập trung luận giải các giải pháp xây dựng “lá chắn tư tưởng” vững chắc trong tình hình mới.

Thượng tá TRẦN QUỐC CƯỜNG, Phó Chính ủy Sư đoàn 3


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.289,

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 80.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr. 83.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr. 79.

Các tin khác:

Tìm kiếm theo:Chuyên mục nàyTất cả các chuyên mục