Một buổi sớm ở xóm Nà Luông, xã Cốc Pàng (Cao Bằng), làn hơi trắng từ lò chưng cất tinh dầu quế, hồi lặng lẽ bay lên giữa màu xanh bạt ngàn của núi rừng, tỏa hương thơm ngào ngạt. Ông Lưu Văn Hẻn, người dân tộc Nùng, vừa thoăn thoắt chất nguyên liệu vào lò vừa cười hiền nói với chúng tôi: "Có công việc, thu nhập như ngày hôm nay, là nhờ công sức của bộ đội Đoàn 799 cả đấy".
.jpg)
Cán bộ Đoàn KT-QP 799 cấp bò sinh sản cho bà con nhân dân xóm Nà Tồng và Nà Mấu, xã Lý Bôn, tỉnh Cao Bằng.
Niềm vui ấy là thành quả của cả một hành trình dài, khi những người lính Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 799 đã bền bỉ đi cùng đồng bào vùng biên bằng những việc làm rất cụ thể: Chọn đúng mô hình sản xuất, hướng dẫn đúng kỹ thuật và kiên trì đồng hành cho đến khi người dân tự làm chủ hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình.
Đóng quân tại xã Cô Ba, tỉnh Cao Bằng, Đoàn KT-QP 799 có nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn hai Khu KT-QP Bảo Lạc-Bảo Lâm và Hà Quảng (Cao Bằng). Với cán bộ, chiến sĩ của Đoàn, giúp người dân thoát nghèo không chỉ là hoàn thành một dự án, mà còn là xây dựng “thế trận lòng dân” ngay từ những bản làng nơi biên cương.
Những ngày đầu triển khai các chương trình hỗ trợ sản xuất, khó khăn lớn nhất không phải là vốn hay kỹ thuật, mà là làm sao để bà con tin và mạnh dạn thay đổi cách làm cũ. Vì thế, cán bộ đơn vị chọn cách gần dân nhất: “4 cùng” với nhân dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc).
Thượng tá Phạm Văn Hùng, Phó Đoàn trưởng Đoàn KT-QP 799 cho biết: Trước mỗi dự án, đơn vị đều phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương khảo sát kỹ điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất, lựa chọn đúng mô hình, đúng đối tượng, tổ chức họp dân công khai, sau đó mới lập dự án và triển khai thực hiện. Khi mô hình bắt đầu vận hành, cán bộ thường xuyên xuống cơ sở hướng dẫn kỹ thuật, theo dõi, tháo gỡ khó khăn cho từng hộ.
Cách làm ấy giúp mỗi mô hình không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ ban đầu mà từng bước trở thành sinh kế lâu dài.
Tận dụng lợi thế từ diện tích đất đồi, thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương. Những năm qua, Đoàn 799 cùng địa phương phát triển hơn 4.000ha quế, hồi tại các xã Cốc Pàng, Cô Ba và Lý Bôn. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác chưa tương xứng vì người dân vẫn sử dụng những lò chưng cất cũ, mỗi lần phải mất 2 đến 3 ngày, tiêu thụ khoảng 3m3 củi mới thu được khoảng 30 lít tinh dầu.
Từ thực tế ấy, cán bộ đơn vị nghiên cứu, cải tiến lò chưng cất theo nguyên lý “lôi cuốn hơi nước”. Không phải là công nghệ quá phức tạp, nhưng hiệu quả mang lại rất rõ rệt. Thời gian mỗi mẻ chỉ còn 5 đến 6 giờ, một ngày có thể chưng cất 2 lần/lò, sản lượng mỗi lần vẫn đạt 30 lít tinh dầu, trong khi chất lượng tinh dầu tốt hơn, ít lẫn tạp chất và giữ được hương thơm tự nhiên, thành phần trong tinh dầu cũng không bị biến đổi nhiều.
Trung tá Hầu Việt Quỳnh, Đội trưởng Đội sản xuất số 3 cho biết, điều quan trọng không chỉ là xây dựng lò mới mà là giúp người dân biết vận hành, biết chăm sóc vùng nguyên liệu, biết tính toán hiệu quả kinh tế. Vì vậy, đơn vị thường xuyên tổ chức tập huấn, cử cán bộ xuống tận hộ gia đình hướng dẫn từng công đoạn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh, giúp người dân từng bước nắm vững kỹ thuật và chủ động áp dụng vào sản xuất.
Nhờ vậy, cuộc sống của gia đình ông Lưu Văn Hẻn, ở xóm Nà Luông, xã Cốc Pàng đã thay đổi từng ngày. Từ chỗ thiếu ăn, con cái không được đến trường, nay thu nhập bình quân của gia đình đạt trên 30 triệu đồng/người/năm. Ngôi nhà hai tầng khang trang, chiếc tivi, tủ lạnh và tiếng cười trẻ nhỏ là những điều tưởng chừng rất bình thường, nhưng với người dân vùng cao, đó là cả một chặng đường vượt khó.
Rời Cốc Pàng, chúng tôi đến xã Bảo Lâm, nơi những đàn bò sinh sản đang trở thành “của để dành” của nhiều gia đình người Mông.
Con đường lên bản quanh co, nhà cửa thưa thớt. Người dân nơi đây lâu nay chủ yếu dựa vào nương rẫy, đời sống còn nhiều khó khăn. Chính vì vậy, Đoàn 799 lựa chọn mô hình bò sinh sản - loại vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán chăn nuôi của địa phương.
Không trao bò rồi để người dân tự xoay xở, cán bộ đơn vị hướng dẫn từ việc làm chuồng, chọn bãi chăn thả đến kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh. Trong 3 năm (2023-2025), đơn vị đã cấp 210 con bò giống cho 210 hộ ở xã Bảo Lâm và Quảng Lâm. Giống bò bản địa thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nên sinh trưởng, sinh sản thuận lợi.
Bà Đặng Thị Bảy ở xóm Lạng Cá, xã Bảo Lâm xúc động kể, trước đây ngoài làm nương còn phải đi làm thuê để có thêm tiền nuôi con. Từ khi được hỗ trợ bò sinh sản, đàn bò mỗi năm đều cho bê con. Cùng với chăn nuôi lợn, gà, gia đình đã thoát nghèo và có điều kiện cho hai con tiếp tục học tập.
Những câu chuyện cụ thể của gia đình ông Hẻn hay bà Bảy khiến chúng tôi hiểu rằng, điều người dân cần không chỉ là một khoản hỗ trợ, mà là một hướng đi có thể gắn bó lâu dài với mảnh đất quê hương.
Điều đó cũng hiện hữu ở xã Trường Hà và Cần Yên, nơi những lò sấy thuốc lá mới đang thay đổi cách sản xuất của nhiều hộ dân. Trong những năm qua, Đội sản xuất số 6 đã hỗ trợ xây dựng 250 lò sấy thuốc lá cho 250 hộ. Mỗi chiếc lò không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tạo điều kiện để người dân chủ động hơn trong sản xuất.
Gia đình chị Linh Văn Sán, người dân tộc Tày ở xóm Tả Cáp, xã Cần Yên từng thuộc diện hộ nghèo với 5 nhân khẩu. Năm 2024, được hỗ trợ một lò sấy trị giá hơn 40 triệu đồng, gia đình mạnh dạn mở rộng diện tích trồng thuốc lá. Chỉ trong năm, chị thực hiện 5 lần sấy, thu về hơn 100 triệu đồng. Từ chỗ quanh năm lo cái ăn, giờ đây gia đình đã có thêm điều kiện để ổn định cuộc sống.
Năm 2026, Đoàn KT-QP 799 tiếp tục triển khai dự án đầu tư xây dựng công trình (giai đoạn 2) khu KT-QP Bảo Lạc-Bảo Lâm; Hà Quảng và dự án phát triển kinh tế xã hội - vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như: Hỗ trợ xây dựng, nâng cấp, mở rộng đường giao thông nông thôn phục vụ tuần tra bảo đảm quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế xã hội; hỗ trợ các mô hình chăn nuôi, trồng trọt: chăn nuôi bò sinh sản và nuôi ngựa sinh sản; mô hình hỗ trợ xây dựng lò chưng cất tinh dầu hồi, quế cho 570 hộ dân.
Điều đáng ghi nhận ở Đoàn KT-QP 799 là các mô hình không tách rời công tác dân vận. Cùng với hướng dẫn phát triển sản xuất, cán bộ đơn vị còn tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giúp người dân ngày công lao động, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, khám, chữa bệnh... Chính sự gắn bó ấy đã tạo nên mối quan hệ đoàn kết, tin cậy giữa nhân dân với bộ đội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Ở vùng biên giới Cao Bằng, những mô hình sinh kế không chỉ mang lại thu nhập. Chúng còn giữ chân người dân ở lại với bản làng, với nương rẫy, góp phần xây dựng những “cột mốc sống” nơi biên cương Tổ quốc.
Có lẽ, giá trị lớn nhất mà Đoàn KT-QP 799 tạo dựng không nằm ở những con số hay công trình, mà ở sự đổi thay hiện hữu trong từng mái nhà, từng nụ cười của người dân sau một mùa thu hoạch. Khi cuộc sống ngày một đủ đầy hơn, niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước và Quân đội cũng được vun đắp bền chặt hơn. Đó chính là nền tảng để vùng đất biên cương không chỉ phát triển về kinh tế mà còn thêm vững chắc về quốc phòng, an ninh - nơi hình ảnh người lính “Bộ đội Cụ Hồ” luôn hiện diện bằng những việc làm bình dị mà sâu nặng nghĩa tình.
-
In trang này
Tìm kiếm theo:Chuyên mục nàyTất cả các chuyên mục


